Tứ tri

Học thuật
Thân thiện
Tứ tri

Dưới ánh trăng mờ, một người đàn ông mặc áo quan thời xưa đẩy nhẹ túi vàng về phía người đối diện để từ chối, thể hiện tinh thần tứ tri.

Định nghĩa
  1. Danh từ:
    • Bốn người biết: Cụm từ "tứ tri" nghĩa đen chỉ bốn người biết. xuất phát từ một điển tích, hàm ý rằng làm việc trong mật thì cũng người biết, cụ thể : trời biết, thần biết, ta biết ngươi biết. Từ đó, "tứ tri" trở thành một khái niệm nhắc nhở về lương tâm sự giám sát của đạo đức.
dụ sử dụng
  • Danh từ:
    • Làm việc ám muội, đừng tưởng không ai hay, trên đời này vẫn "tứ tri". (Làm việc mờ ám, đừng tưởng không ai biết, trên đời này vẫn "bốn người biết".)
    • Câu chuyện "tứ tri" của Dương Chấn bài học về sự liêm khiết, tự trọng. (Câu chuyện "bốn người biết" của Dương Chấn bài học về sự liêm khiết, tự trọng.)
Các cách sử dụng nâng cao
  • Dùng như một khái niệm đạo đức: "Tứ tri" thường được dùng để nhấn mạnh sự giám sát của lương tâm đạo trời, khuyên răn con người không nên làm điều xấu không ai chứng kiến.
    • Làm người phải biết sợ "tứ tri", đó nền tảng của đức hạnh. (Làm người phải biết sợ "bốn người biết", đó nền tảng của đức hạnh.)
Biến thể từ gần giống
  • Lương tri (danh từ): lương tâm, khả năng phân biệt phải trái của con người. liên hệ chặt chẽ với ý "ta biết" trong "tứ tri".
    • Hành động của anh ta đã trái với lương tri. (Hành động của anh ta đã trái với lương tâm.)
  • Thiên tri (danh từ): trời biết. Đây một trong bốn yếu tố cấu thành "tứ tri".
    • Thiên tri địa tri, ta đây cũng biết. (Trời biết đất biết, ta đây cũng biết.)
Từ đồng nghĩa
  • Lương tâm cáo giác: cụm từ diễn tả việc lương tâm không yên, tự cảm thấy lỗi.
  • Trời cao mắt: thành ngữ thể hiện quan niệm rằng hành vi con người đều được trời chứng giám.
Thành ngữ liên quan
  • "Thiên tri, thần tri, ngô tri, tử tri": Đây chính cụm từ gốc Hán-Việt giải thích "tứ tri", nghĩa là: Trời biết, thần biết, ta biết, ngươi biết.
    • Theo điển tích, Dương Chấn đã nói: "Thiên tri, thần tri, ngô tri, tử tri, vị vô tri?" để từ chối vàng hối lộ. (Theo điển tích, Dương Chấn đã nói: "Trời biết, thần biết, ta biết, ngươi biết, sao lại bảo không ai biết?" để từ chối vàng hối lộ.)
Tứ tri

Dưới ánh trăng mờ, một người đàn ông mặc áo quan thời xưa đẩy nhẹ túi vàng về phía người đối diện để từ chối, thể hiện tinh thần tứ tri.

  1. 4 người biết, ý nói làm việc ám muội đến mấy cũng người biết, làm điều bất lương biết tự thẹn với lương tâm
  2. Hậu Hán Thư: Dương Chấn tự Khôi học rộng, tinh thông kinh truyện. Khi ông làm thái thú đất Đông Lai, nhân qua huyện Xương ốp, quan huyện này Vương Mật đang đêm bọc 10 cân vàng mật dâng Dương Chấn. ông không nhận, Mật : "Xin quan lớn nhận cho, đang đêm không ai hay biết đâu." Chấn nói: "Thiên tri, thần tri, ngô tri, tử tri, vị vô tri ?" ( trời biết, thần biết, ta biết, ngươi biết, sao lại bảo không ai biết ?)
  3. Thiên Nam ngữ lục:
  4. Tôi lòng nào tứ tri
  5. Sống nết dại, khổ nết ngay

Từ gần giống

Từ chứa "Tứ tri"